Nhận biết ngay triệu chứng sốt xuất huyết để chữa trị kịp thời

Bệnh sốt xuất huyết là một trong những bệnh nguy hiểm và phổ biến vào mùa hè. Đây là bệnh nhiễm virut cấp tính do muỗi truyền.

Ngày 23/06/2017, 07:30:54   Tác giả :     Lượt xem: 5079

­­Việc nhận biết triệu chứng sốt xuất huyết sớm để có thể chữa bệnh kịp thời tránh những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

Sốt xuất huyết là gì?

Sốt xuất huyết là bệnh chuyên khoa truyền nhiễm cấp tính, dễ lây lan thành dịch nguy hiểm. Bệnh do virut dengue gây ra. Sốt xuất huyết lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm virut sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt.

Có hai loại muỗi vằn có thể truyền bệnh có tên là Aedes aegypti và Aedes albopictus, nhưng chủ yếu là do muỗi Aedes aegypti.

Sốt xuất huyết rất dễ lây lan thành dịch nguy hiểm

Sốt xuất huyết rất dễ lây lan thành dịch nguy hiểm

Bệnh sốt xuất huyết có hai thể: sốt dengue và sốt xuất huyết Dengue. Bệnh có thể xảy ra ở tất cả các nước nằm trong khí hậu nhiệt đới. Ở Việt Nam thì bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh, xảy ra quanh năm. Nhưng sốt xuất huyết là bệnh dễ bùng phát thành dịch vào mùa mưa.

Triệu chứng sốt xuất huyết điển hình nhất

Bệnh sốt xuất huyết dễ lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm virut truyền sang người bình thường.

Tùy từng giai đoạn, mức độ nhiễm bệnh của từng người mà ta sẽ thấy những triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết là khác nhau. Dưới đây là một trong những dấu hiệu cơ bản nhất của bệnh sốt xuất huyết.

Sốt cao

Đây là một trong những triệu chứng của bệnh sốt xuất huyết rất điển hình. Theo các chuyên gia giảng dạy tại Trường Cao đẳng Y Pasteur cho biết biểu hiện đầu tiên của bệnh sốt xuất huyết là tình trạng sốt cao.

Có thể là sốt (nóng) cao 39-40 độ C, đột ngột. Sốt liên tục trong 3-4 ngày liền, người bệnh mệt mỏi, phát ban, buồn nôn.

Xuất huyết (chảy máu)

Hiện tượng xuất huyết ở nhiều dạng khác nhau:

Xuất huyết dưới da: Trên bề mặt da sẽ có những chấm màu đỏ, đốm đỏ hoặc vết bầm. Chúng ta có thể phân biệt với vết muỗi cắn bằng cách căng da chung quanh chấm đỏ, nếu chúng vẫn còn là do xuất huyết, ngược lại nếu biến mất thì đó là vết muỗi cắn.

  • Sốt xuất huyết còn bị chảy máu chân răng, nướu răng và chảy máu cam
  • Bệnh nhân có thể bị ói hoặc đi cầu ra máu( nước ói sẽ có màu nâu, phân lợn cợn giống như bã cà phê hoặc đỏ tươi). Triệu chứng này giống với bị bệnh viêm đại tràng
  • Rong kinh ở phụ nữ, với người mang thai khi bị sốt xuất huyết vào lúc chuyển dạ sẽ càng nguy hiểm hơn vì mất nhiều máu.
  • Đau bụng, nôn ói bệnh nhân khó chịu

Những dấu hiệu điển hình của bệnh sốt xuất huyết

Những dấu hiệu điển hình của bệnh sốt xuất huyết

Dấu hiệu sốc

Sốc là dấu hiệu bệnh sốt xuất huyết rất nặng. Chúng ta chỉ thấy dấu hiệu này từ ngày thứ  3-6 của bệnh, nhất là lúc trẻ đang bị sốt cao chuyển sang hết sốt có thể xảy ra ngay cả khi không rõ dấu hiệu xuất huyết. Dấu hiệu sốc gồm:

  • Trẻ mệt mỏi, sốt li bì hoặc vật vã
  • Chân tay lạnh
  • Tiểu ít, sẽ kèm theo ói hoặc đại tiện ra máu.

Thời gian diễn ra triệu chứng sốc thường ngắn từ 12 đến 24h cần phải đi viện để điều trị sốt xuất huyết kịp thời.

Lưu ý: Qúa trình diễn biến của bệnh từ 2 đến 7 ngày, nguy hiểm xảy ra ở ngày sốt thứ tư, thứ năm. Bệnh nhân sẽ trong trạng thái mệt mỏi, tiểu ít, mạch nhanh nhẹ, hạ huyết áp dễ bị trụy mạch.

Tiến trình của bệnh sốt xuất huyết

Các giảng viên của Trường Cao đẳng Y dược Pasteur cho biết: Bình thường sốt xuất huyết phải xác định trong 3 ngày đầu tiên kể từ khi khởi phát.

Ngày thứ 1: Người bệnh sốt cao, đột ngột, liên tục, sốt không ớn lạnh, mặt ửng đỏ, họng đỏ.

Ngày thứ 2: Bệnh nhân vẫn tiếp tục sốt cao. Lúc này hãy tìm dấu hiệu xuất huyết trên cơ thể, dưới da, trên bụng, chân tay, mí mắt.

Ngày thứ 3: Triệu chứng sốt xuất huyết rõ ràng hơn, có thể bị xuất huyết da niêm mạc như chảy máu mũi, máu răng. Bệnh nhân có cảm giác khó chịu, đau bụng. Cần phải làm xét nghiệm máu Hct tăng 39-40%, tiểu cầu giảm dưới 150.000 tế bào/mm3 có thể chẩn đoán bệnh lên tới 90%.

Đến ngày thứ 4, thứ 5 thì các triệu chứng là rõ ràng nhất.

Khi phát hiện triệu chứng sốt xuất huyết người bệnh cần được điều trị tích cực, hỗ trợ truyền máu để  tránh những biến chứng như sốc, trụy mạch, xuất huyết nội tạng, xuất huyết não gây nguy hiểm tính mạng.

Nguồn: ytevietnam.net.vn