Hẹp eo động mạch chủ ở trẻ có nguy hiểm không? 

Hẹp eo động mạch chủ ở trẻ có nguy hiểm không?

  
  
    
165 Lượt Xem
YTVN - Tật hẹp eo động mạch chủ chiếm 8 đến 10% ca tim bẩm sinh thường gặp ở nam. Trong đó có 30% các hội chứng Turner bị hẹp eo động mạch chủ. Còn lại kèm van động mạch chủ 2 lá.

Vậy hẹp eo động mạch chủ gây nguy hiểm như thế nào? Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Bác sĩ giảng viên tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur để cùng tìm hiểu về vấn đề này. Hãy cũng theo dõi cuộc trò chuyện này của chúng tôi nhé!

viem phoi nhung dieu cha me can biet

Hẹp eo động mạch chủ ở trẻ có nguy hiểm không?

Một số biểu hiện điển hình của bệnh nhân bị hẹp eo động mạch chủ 

Hỏi: Thưa Bác sĩ, Bác sĩ có thể cho biết bệnh nhân bị hẹp eo động mạch chủ sẽ có các biểu hiện nào?

Trả lời:

Thầy thuốc trên trang tin y tế cũng đã thông tin: Trẻ bú kém, khó thở, chậm tăng cân, tiểu ít, vô niệu có thể xuất hiện sớm trong 6 tuần đầu sau sanh. Trẻ bị yếu, đau 2 chân sau gắng sức. Xanh xao, vã mồ hôi, tím chi dưới (đặc biệt sau truyền PGE1), mạch chi dưới yếu hoặc không bắt được, mạch tứ chi có thể yếu, nhỏ nếu suy tim nặng, huyết áp chi trên cao hơn chi dưới. Có thể sờ thấy rung miêu tâm thu ở hõm trên ức. T2 mạnh, có thể nghe T3 ở mỏm. 50% không nghe được âm thổi tim, có thể có âm thổi tâm thu dạng phụt ở ổ van động mạch chủ, ở lưng giữa 2 bả vai, click phun tâm thu ở mỏm hoặc đáy tim (do kèm tật van động mạch chủ 2 lá hoặc do cao huyết áp), âm thổi tâm trương ở KGS II trái do hở van động mạch chủ. Thở nhanh, rút lõm ngực, phổi có rale ẩm. Gan to. Thừa da cổ, chân tóc vùng gáy thấp ở bệnh nhi có hội chứng Turner.

Hỏi: Chúng ta cần làm các xét nghiệm cận lâm sàng nào trong trường hợp này? Bệnh được chẩn đoán xác định dựa vào đâu?

Trả lời: 

Cận lâm sàng cần làm: ECG thấy có nhịp nhanh xoang, lớn thất trái, nhĩ trái, 20% ECG bình thường. XQ ngực có bóng tim to sang trái, động mạch chủ lên dãn, dấu khấc trên xương sườn thứ 4-8 (thấy ở trẻ > 5 tuổi). Siêu âm tim xác định có hẹp eo động mạch chủ, vị trí hẹp so với ống động mạch, mức độ hẹp (gradient qua eo), thất trái dầy, dãn, nhĩ trái lớn, chức năng co bóp của thất trái, áp lực động mạch phổi, tật đi kèm (ống động mạch, van động mạch chủ 2 lá, hẹp, hở van động mạch chủ, hẹp van 2 lá, thông liên thất), tuần hoàn bàng hệ. Chụp mạch máu hoặc CTA trong trường hợp siêu âm tim không thấy rõ. Nhiễm sắc thể đồ, siêu âm bụng (đánh giá cơ quan sinh dục) khi lâm sàng gợi ý hội chứng Turner (XO). 

Chẩn đoán xác định dựa vào siêu âm tim Doppler màu.

Đây cũng là nhận định của các giảng viên đang công tác tại Cao đẳng Dược TpHCM – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur khuyên những bạn có biểu hiện cần kiểm tra sớm để phát hiện và điều trị kịp thời. 

3 108596

Một số biểu hiện điển hình của bệnh nhân bị hẹp eo động mạch chủ 

Một số nguyên tắc điều trị bệnh hẹp eo động mạch chủ bắt buộc phải nhớ 

Hỏi: Vậy điều trị bệnh có phức tạp và kéo dài không? Có các biện pháp nào có thể điều trị bệnh?

Trả lời: 

Là giảng viên tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur tôi thiết nghĩ để điều trị hẹp eo động mạch chủ bên cạnh các biện pháp nội khoa trong một số trường hợp còn cần đến can thiệp ngoại khoa.

Nội khoa 

Ở trẻ sơ sinh hẹp eo động mạch chủ nặng thể trước ống ĐM, trong khi chờ phẫu thuật, truyền tĩnh mạch Prostagladin E1: 0,01-0,1μg/kgphút để giữ ống ĐM. Chú ý tác dụng phụ: hạ huyết áp, tăng thân nhiệt, giảm thông khí, ngừng thở. Điều trị suy tim (nếu có) với digoxin, lợi tiểu hoặc thuốc vận mạch nếu có sốc. Điều trị cao huyết áp. 

Ngoại khoa 

Phẫu thuật sữa chữa trong những trường hợp hẹp eo động mạch chủ có cao huyết áp chi trên với huyết áp tâm thu của chi trên lớn hơn của chi dưới ≥ 20 mmHg lúc nghỉ hoặc sau khi gắng sức. Đường kính eo động mạch chủ < 50% đường kính động mạch chủ. Suy tim, tim to. 

Thông tim can thiệp dành cho trẻ lớn bằng cách nong bằng bóng cho những trường hợp hẹp eo động mạch chủ nặng, có triệu chứng, chưa phẫu thuật hoặc tái hẹp sau phẫu thuật. Đặt stent chỗ hẹp eo động mạch chủ (loại stent có thể tăng kích thước dần khi trẻ lớn lên) cho những trường hợp bị tái hẹp sau phẫu thuật, có chênh áp tâm thu qua eo > 20 mmHg khi thông tim và eo động mạch chủ có kích thước đủ để đặt stent an toàn. Đặt stent chỗ hẹp eo động mạch chủ (loại stent có thể tăng kích thước dần khi trẻ lớn lên) cho những trường hợp chưa được phẫu thuật có chênh áp tâm thu qua eo lúc thông tim > 20 mmHg hay hẹp eo động mạch chủ một đoạn dài, với chênh áp tâm thu qua chỗ hẹp > 20 mmHg hay thất bại với nong bằng bóng. 

Trang tin tức y tế Việt Nam cũng đã khẳng định thêm: 

Lưu ý cần theo dõi tái khám mỗi 6-12 tháng sau mổ hoặc sau nong bằng bóng về mặt lâm sàng (chú ý huyết áp 4 chi, suy tim), siêu âm tim (tái hẹp 6-33%, hẹp dưới van động mạch chủ, túi phình động mạch chủ, chức năng tim, áp lực động mạch phổi). Tiếp tục phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm trùng nếu kèm van động mạch chủ 2 lá hoặc còn hẹp eo động mạch chủ tồn lưu. Theo dõi và điều trị cao huyết áp, suy tim nếu có.

Hy vọng với những chia sẻ trên của Bác sĩ chúng ta đã hiểu thêm phần nào về biểu hiện, các xét nghiệm cần thiết và biện pháp điều trị tình trạng hẹp eo động mạch chủ ở trẻ. Chúc các bạn luôn vui khỏe!

Nguồn ytevietnam.net.vn

Từ Khóa :

    Bài Viết Cùng Chuyên Mục